Các biến chứng do nhổ răng khôn khá hiếm, với nguy cơ viêm ổ răng khô từ 5% – 10%, các vấn đề vĩnh viễn như tê hoặc tổn thương các răng lân cận chỉ xảy ra với tỷ lệ 1%. Tuy nhiên đây lại là những biến chứng nguy hiểm, nếu không được điều trị kịp thời sẽ rất có khả năng ảnh hưởng đến sức khỏe tổng thể. Hiểu về những biến chứng sau khi nhổ răng khôn và nguyên nhân gây ra chúng có thể giúp bạn có phương hướng phòng ngừa và điều trị hiệu quả.
Nhổ răng khôn nguy hiểm không?
Nhìn chung nhổ răng khôn là một thủ thuật an toàn, không nguy hiểm, nhưng cũng có thể tiềm ẩn một số rủi ro. Hầu hết mọi người đều bị sưng miệng hoặc má sau phẫu thuật và không thể mở miệng hoàn toàn trong vài giờ hoặc thậm chí vài ngày. Nhiều người bị đau ngay sau khi thực hiện thủ thuật nhưng tình trạng này không kéo dài.
Nhưng nếu cơn đau tái diễn sau 4 – 5 ngày, nghiêm trọng hơn và kèm theo sưng tấy hoặc hôi miệng thì đây là dấu hiệu cho thấy vết thương có thể bị nhiễm trùng. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do cục máu đông cầm máu cho vết thương bị bong ra sớm, khiến vết thương bị vi khuẩn tấn công, gây viêm nhiễm. Rất hiếm trường hợp nhiễm trùng nặng.
Quá trình nhổ răng khôn có thể làm tổn thương dây thần kinh và các mạch máu, làm chảy máu và tê tạm thời ở vùng lưỡi hoặc mặt. Cứ 100 người nhổ răng khôn thì 1 người có nguy cơ mắc biến chứng vĩnh viễn, chẳng hạn như tổn thương hoặc bị tê vùng răng lân cận.
Tổng hợp các biến chứng sau khi nhổ răng khôn có thể gặp phải
Vi khuẩn xâm nhập vào vết thương sau khi nhổ răng có khả năng dẫn đến các biến chứng như:
1. Viêm xương tủy
Nhổ răng trong môi trường không sạch sẽ với các dụng cụ không được vô trùng có thể tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập và tấn công vào các cấu trúc xương, gây viêm tủy xương hàm. Viêm tủy xương hàm là tình trạng nhiễm trùng vùng xương hàm liên quan vị trí nhổ răng, gây sưng đau kéo dài và có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tổng thể.
2. Viêm hoại tử sàn miệng (Ludwig’s angina)
Do vị trí của răng hàm thứ 3 ở điểm giao nhau của các mô ở cổ và sàn miệng, khi các mô tế bào ở vùng này bị viêm không được điều trị sớm thường diễn tiến nhanh chóng, gây ra hoại thư vùng mô mềm ở cổ và sàn miệng, có thể làm tắc nghẽn hô hấp và gây tử vong.
3. Gãy xương hàm
Gãy xương hàm xảy ra do áp lực đè lên hàm trong quá trình nhổ răng hoặc do một vùng hàm bị yếu đi sau phẫu thuật (đặc biệt ở người lớn tuổi bị loãng xương). Mặc dù hiếm gặp nhưng đây là một biến chứng nghiêm trọng và cần phải nhập viện để phẫu thuật bổ sung nhằm ổn định hàm bị gãy.
4. Hoại tử xương hàm
Người bệnh sử dụng thuốc Bisphosphonates để điều trị chứng loãng xương, đa u tủy, ung thư xương và di căn xương từ các bệnh ung thư khác dễ có nguy cơ cao bị hoại tử xương hàm. Nếu bệnh nhân đang dùng thuốc điều trị loãng xương thông thường (như Fosamax, Boniva, Actonel và Reclast) để điều trị loãng xương thì không nên nhổ răng.
Đối với những bệnh nhân đã sử dụng bisphosphonates qua đường tĩnh mạch như một phần của phác đồ điều trị ung thư, tỷ lệ này cao hơn đáng kể với tỷ lệ gần 9% khi nhổ răng. Nên cân nhắc nhổ răng cận biên, bao gồm cả răng khôn, trước khi điều trị ung thư.
5. Tổn thương khớp thái dương hàm (TMJ)
Tổn thương khớp thái dương hàm (TMJ) có thể xảy ra trong quá trình nhổ răng hàm thứ 3. Biến chứng thường gặp nhất là trật khớp hoặc bán trật khớp thái dương hàm trong quá trình nhổ răng, do bệnh nhân phải há miệng quá lâu. Nắn trật khớp thái dương hàm sẽ được bác sĩ thực hiện trong quá trình nhổ răng.
6. Dị ứng, ngộ độc, shock thuốc gây tê
Mặc dù rất hiếm nhưng vẫn tốn tại 1 số trường hợp tử vong đã xảy ra do bị dị ứng với thuốc gây tê hoặc thuốc gây mê được sử dụng khi nhổ răng, kể cả răng thông thường lẫn răng khôn.
7. Không há được miệng (Trismus)
Sau khi nhổ răng hàm thứ 3, sẽ có một vài người bị hiện tượng co thắt cơ hàm. Người bệnh chỉ có khả năng đóng hoặc mở một phần miệng, thậm chí trong các trường hợp nghiêm trọng, người bệnh không còn khả năng há miệng. Tình trạng này có xu hướng đạt đỉnh điểm vào khoảng 2-3 ngày sau phẫu thuật và có thể kéo dài khoảng 1 tuần. Tỷ lệ mắc biến chứng này lên đến 40% khi người bệnh nhổ răng khôn mọc sai vị trí, mức độ lệch nhiều và phân độ nặng.
8. Viêm ổ răng khô (Viêm xương ổ răng)
Viêm xương ổ răng là một biến chứng khá phổ biến sau khi nhổ răng, xảy ra ở khoảng 5% – 10% bệnh nhân.
Tình trạng này xảy ra khi cục máu đông không hình thành trong ổ răng hoặc bị bong ra quá sớm, làm gián đoạn quá trình lành thương. Khi cục máu đông bảo vệ miệng vết thương bị bong ra sẽ khiến xương và dây thần kinh bên dưới tiếp xúc trực tiếp với không khí và mảng bám, khiến vi khuẩn dễ dàng tấn công và xâm nhập, dẫn đến viêm xương ổ răng. Biến chứng này thường xuất hiện khoảng 2 – 5 ngày sau khi nhổ răng khôn, kèm theo miệng xuất hiện vị lạ, trì hoãn thời gian lành thương lên đến 2 tuần.
Người có rủi ro mắc biến chứng này cao hơn thường rơi vào người có răng khôn mọc ở vị trí khó nhổ hoặc bị chấn thương (đặc biệt là răng khôn hàm dưới), người trên 30 tuổi, hút thuốc, thói quen vệ sinh răng miệng kém và phụ nữ. Khi bị viêm ổ răng khô, nha sĩ sẽ cần đặt một miếng băng thuốc vào ổ răng để làm dịu cơn đau và thúc đẩy quá trình lành thương. Băng phải được thay sau mỗi 24 giờ cho đến khi các triệu chứng khô ổ răng giảm bớt (khoảng 5 – 7 ngày). (1)
9. Tổn thương răng số 7
Cần sử dụng nhiều lực để loại bỏ răng khôn trong quá trình nhổ răng nên răng bên cạnh (răng số 7) có thể bị sứt mẻ hoặc nứt nhẹ. Mặc dù hiếm gặp nhưng toàn bộ thân răng của các răng liền kề có thể bị gãy hoặc rơi ra khỏi ổ răng.
10. Chấn thương thần kinh
Biến chứng này thường phổ biến khi nhổ răng khôn hàm dưới hơn. Chấn thương thần kinh vĩnh viễn không phổ biến và thường chỉ xảy ra khi dây thần kinh bị cắt hoặc rách. Có khoảng 5% – 8% người bị tê môi, lưỡi và má sau khi nhổ răng hàm dưới, với hơn 95% hết hẳn trong vòng 4 – 8 tuần sau phẫu thuật.
11. Nhiễm trùng sau khi nhổ răng khôn
Quá trình lành thương xương và mô mềm diễn ra chậm hơn dự kiến có thể xảy ra sau khi nhổ răng hàm thứ 3. Viêm nha chu không được phát hiện và điều trị kịp thời có khả năng trở thành nhiễm trùng mãn tính ở răng hàm thứ 2. Để giảm thiểu nguy cơ bị viêm nha chu và nhiễm trùng mãn tính, ổ răng khôn cần được bơm rửa làm sạch trước khi khâu đóng vết thương, ghép xương bổ sung là một lựa chọn nếu xương nền yếu và bị thiếu hổng nhiều.
12. Thủng xoang hàm trên
Răng hàm trên được nhổ ra có thể tạo ra một lỗ thủng trong các xoang lân cận. Nếu lỗ này không có khả năng tự lành hoặc tốn rất nhiều thời gian hồi phục, người bệnh có khả năng cần tái khám để đóng lỗ vào xoang. Mặc dù nguy cơ xảy ra biến chứng này khi răng khôn ở hàm trên mọc bình thường là rất thấp, tuy nhiên nếu nhổ răng khó và phải mở xương nhiều sẽ ảnh hưởng đến khoảng 20% người bệnh nhổ răng khôn.
13. Biến chứng chảy máu kéo dài
Chảy máu sau khi nhổ răng khôn là hiện tượng bình thường. Bác sĩ có thể xử lý vết thương bằng cách nén chặt bằng gạc, hoặc trong một số trường hợp, cần phải sử dụng trombin tại chỗ hoặc các chất đông máu khác. Tỷ lệ xuất huyết nghiêm trọng là tương đối hiếm, chảy máu kéo dài sau khi nhổ răng khôn khoảng trên 5%.
>>> Xem thêm: https://nhakhoathuyanh.com/rang-su-lava-3m-co-xuat-xu-tu-dau-uu-diem-la-gi/


